Cortrium

0,00 ₫
In stock
SKU
Cortrium
CHỈ ĐỊNH Khi không thể dùng thuốc theo đường uống, và chế phẩm cần có độ mạnh, hình thức và đường sử dụng thích hợp để điều trị, bột vô trùng Cortrium được chỉ định dùng tiêm truyền hay tiêm bắp trong những tình trạng sau đây: - Rối loạn nội tiết: Thiểu năng vỏ thượng thận nguyên phát hay thứ phát (hydrocortison hay cortison là thuốc được ưu tiên tuyển chọn; những chất tương đồng tổng hợp có thể được dùng cùng với mineralcorticoid; ở trẻ em, sự cung cấp mineralcorticoid rất quan trọng). Thiểu năng vỏ thượng thận cấp tính (hydrocortison hay cortison là thuốc được ưu tiên tuyển chọn; sự cung cấp mineralcorticoid có thể cần thiết; đặc biệt khi dùng những chất tương đồng tổng hợp). Bệnh hay chấn thương nặng trước khi mổ ở bệnh nhân thiểu năng vỏ thượng thận hoặc dự trữ vỏ thượng thận không bảo đảm. Tình trạng sốc không đáp ứng với trị liệu thông thường nếu có thiểu năng vỏ thượng thận hay nghi ngờ thiểu năng vở thượng thận. Quá sản thượng thận bẩm sinh, Canxi máu cao phối hợp ung thư. Viêm tuyến giáp không sinh mủ. - Rối loạn do thấp khớp: Dùng điều trị bổ sung thời gian (để đưa bệnh nhân qua khỏi giai đoạn cấp hay trầm trọng) trong: Viêm xương khớp sau chấn thương, viêm bao hoạt dịch của chứng viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp, kể cả viêm khớp dạng thấp ở người trẻ tuổi (một số trường hợp chọn lọc cần có liều duy trì thấp), viêm bao gân cơ cấp và bán cấp, viêm gân-bao hoạt dịch không đặc hiệu cấp tính, viêm khớp do vảy nến, viêm mõm lồi cầu xương, viêm khớp cấp tính do gút, viêm cứng khớp đốt sống. - Bệnh hệ thống tạo keo: Dùng trong giai đoạn trầm trọng hoặc để điều trị duy trì trong những trường hợp chọn lọc của: Lupus ban đỏ hệ thống, viêm da cơ hệ thống (viêm đa cơ). - Bệnh thuộc về da: Pemphigut, hồng ban đa dạng thể nặng (hội chứng Stevens-Johnson), viêm da tróc vảy, viêm da tiết bã nhờn thể nặng, vẩy nến thể nặng, u sùi dạng nấm. - Các trạng thái dị ứng: Kiểm soát các tình trạng dị ứng hoặc khó trị đã thất bại với cách điều trị thông thường: hen phế quản, viêm da dị ứng, bệnh huyết thanh, các phản ứng quá mẫn với thuốc, các phản ứng nổi mề đay do truyền máu, phù thanh quản cấp không do nhiễm trùng (epinephrin là thuốc chọn lựa ưu tiên). Viêm mũi dị ứng theo mùa hoặc quanh năm. - Các bệnh về mắt: các tiến trình và dị ứng cấp tính nặng và mạn tính ở mắt như: Herpes giác mạc, viêm mống mắt, viêm mống mắt – thể mi, viêm màng mạch – võng mạc, viêm màng mạch nho sau lan tỏa và viêm màng mạch, viêm thần kinh thị, viêm mắt đồng cảm, viêm tiền phòng, viêm kết mạc dị ứng, viêm giác mạc. - Bệnh dạ dày – ruột: Dùng để đưa bệnh nhân qua khỏi cơ nguy kịch của bệnh trong: Viêm loét đại tràng (điều trị toàn thân), viêm đoạn ruột non (điều trị toàn thân). - Bệnh hô hấp: Bệnh sarcoid có triệu chứng, chứng nhiễm độc berylli, viêm phổi hít, hội chứng Loeffler không thể điều trị bằng cách khác, lao phổi tối cấp hay lan tỏa khi dùng đồng thời hóa trị liệu kháng lao thích hợp. - Các rối loạn về máu: Thiếu máu tán huyết mắc phải (tự miễn). Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn ở người lớn (chỉ tiêm mạch, chống chỉ định tiêm bắp). Thiếu máu giảm sản bẩm sinh (dòng hồng cầu). - Các bệnh ung thư: Điều trị tạm thời trong: bệnh bạch cầu và u lympho, bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em. - Các trạng thái phù nề: Để giúp bài niệu và giảm protein niệu trong hội chứng thận hư có cân bằng không kèm theo ure máu cao, hoặc hội chứng thận hư do lupus ban đỏ rải rác. - Hệ thần kinh: Các trường hợp trầm trọng cấp tính của chứng xơ cứng rải rác. - Lao màng não tắc nghẽn khoang dưới nhện hoặc dọa tắc khi dùng đồng thời hóa trị liệu kháng lao thích hợp, bệnh giun xoắn với tổn thương thần kinh hay cơ tim.

CORTRIUM® 40MG

THÀNH PHẦN

Cho một lọ bột pha tiêm:

-        Hoạt chất chính: Methylprednisolon sodium succinat 53,03 mg (tương đương 40 mg Methylprednisolon).

-        Tá dược: Monobasic Sodium Phosphat anhydrous 1,6 mg, Diasic sodium phosphat dried 17,46 mg, Lactose hydrous 25 mg, Benzyl alcohol 8,8 mg.

DƯỢC LỰC

-        Các glucocorticoid thiên nhiên (hydrocortison và cortison), có tính giữ muối, được dùng điều trị thay thế trong những tình trạng suy vỏ thượng thận. Những chất tổng hợp tương đồng với chúng được dùng chủ yếu do tác dụng kháng viêm mạnh trong các rối loạn của nhiều hệ thống cơ quan.

-        Các glucocorticoid gây nhiều tác dụng phụ sâu sắc và làm thay đổi biến dưỡng. Hơn nữa, chúng còn biến đổi đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với nhiều loại kích thích khác nhau.

-        Methylprednisolon là một steroid kháng viêm mạnh. Nó có tính kháng viêm mạnh hơn prednisolon và có khuynh hướng giữ nước và muối ít hơn prednisolon.

-        Methylprednisolon sodium succinat có cùng hoạt tính biến dưỡng và kháng viêm như Methylprednisolon. Khi dùng tiêm với lượng tương đương mol, hai chất tương tự nhau về hoạt tính sinh học. Sodium với hydrocortison succinat, sau khi tiêm tĩnh mạch, bột vô trùng Cortrium mạnh hơn ít nhất gấp 4 lần căn cứ vào sự giảm lượng bạch cầu ái toan, điều này rất phù hợp với sự công hiệu dùng đường uống của Methylprednisolon sodium với hydrocortison.

CHỈ ĐỊNH

Khi không thể dùng thuốc theo đường uống, và chế phẩm cần có độ mạnh, hình thức và đường sử dụng thích hợp để điều trị, bột vô trùng Cortrium được chỉ định dùng tiêm truyền hay tiêm bắp trong những tình trạng sau đây:

-        Rối loạn nội tiết: Thiểu năng vỏ thượng thận nguyên phát hay thứ phát (hydrocortison hay cortison là thuốc được ưu tiên tuyển chọn; những chất tương đồng tổng hợp có thể được dùng cùng với mineralcorticoid; ở trẻ em, sự cung cấp mineralcorticoid rất quan trọng).

Thiểu năng vỏ thượng thận cấp tính (hydrocortison hay cortison là thuốc được ưu tiên tuyển chọn; sự cung cấp mineralcorticoid có thể cần thiết; đặc biệt khi dùng những chất tương đồng tổng hợp).

Bệnh hay chấn thương nặng trước khi mổ ở bệnh nhân thiểu năng vỏ thượng thận hoặc dự trữ vỏ thượng thận không bảo đảm.

Tình trạng sốc không đáp ứng với trị liệu thông thường nếu có thiểu năng vỏ thượng thận hay nghi ngờ thiểu năng vở thượng thận.

Quá sản thượng thận bẩm sinh, Canxi máu cao phối hợp ung thư. Viêm tuyến giáp không sinh mủ.

-        Rối loạn do thấp khớp: Dùng điều trị bổ sung thời gian (để đưa bệnh nhân qua khỏi giai đoạn cấp hay trầm trọng) trong: Viêm xương khớp sau chấn thương, viêm bao hoạt dịch của chứng viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp, kể cả viêm khớp dạng thấp ở người trẻ tuổi (một số trường hợp chọn lọc cần có liều duy trì thấp), viêm bao gân cơ cấp và bán cấp, viêm gân-bao hoạt dịch không đặc hiệu cấp tính, viêm khớp do vảy nến, viêm mõm lồi cầu xương, viêm khớp cấp tính do gút, viêm cứng khớp đốt sống.

-        Bệnh hệ thống tạo keo: Dùng trong giai đoạn trầm trọng hoặc để điều trị duy trì trong những trường hợp chọn lọc của: Lupus ban đỏ hệ thống, viêm da cơ hệ thống (viêm đa cơ).

-        Bệnh thuộc về da: Pemphigut, hồng ban đa dạng thể nặng (hội chứng Stevens-Johnson), viêm da tróc vảy, viêm da tiết bã nhờn thể nặng, vẩy nến thể nặng, u sùi dạng nấm.

-        Các trạng thái dị ứng: Kiểm soát các tình trạng dị ứng hoặc khó trị đã thất bại với cách điều trị thông thường: hen phế quản, viêm da dị ứng, bệnh huyết thanh, các phản ứng quá mẫn với thuốc, các phản ứng nổi mề đay do truyền máu, phù thanh quản cấp không do nhiễm trùng (epinephrin là thuốc chọn lựa ưu tiên).

Viêm mũi dị ứng theo mùa hoặc quanh năm.

-        Các bệnh về mắt: các tiến trình và dị ứng cấp tính nặng và mạn tính ở mắt như: Herpes giác mạc, viêm mống mắt, viêm mống mắt – thể mi, viêm màng mạch – võng mạc, viêm màng mạch nho sau lan tỏa và viêm màng mạch, viêm thần kinh thị, viêm mắt đồng cảm, viêm tiền phòng, viêm kết mạc dị ứng, viêm giác mạc.

-        Bệnh dạ dày – ruột: Dùng để đưa bệnh nhân qua khỏi cơ nguy kịch của bệnh trong: Viêm loét đại tràng (điều trị toàn thân), viêm đoạn ruột non (điều trị toàn thân).

-        Bệnh hô hấp: Bệnh sarcoid có triệu chứng, chứng nhiễm độc berylli, viêm phổi hít, hội chứng Loeffler không thể điều trị bằng cách khác, lao phổi tối cấp hay lan tỏa khi dùng đồng thời hóa trị liệu kháng lao thích hợp.

-        Các rối loạn về máu: Thiếu máu tán huyết mắc phải (tự miễn). Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn ở người lớn (chỉ tiêm mạch, chống chỉ định tiêm bắp). Thiếu máu giảm sản bẩm sinh (dòng hồng cầu).

-        Các bệnh ung thư: Điều trị tạm thời trong: bệnh bạch cầu và u lympho, bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em.

-        Các trạng thái phù nề: Để giúp bài niệu và giảm protein niệu trong hội chứng thận hư có cân bằng không kèm theo ure máu cao, hoặc hội chứng thận hư do lupus ban đỏ rải rác.

-        Hệ thần kinh: Các trường hợp trầm trọng cấp tính của chứng xơ cứng rải rác.

-        Lao màng não tắc nghẽn khoang dưới nhện hoặc dọa tắc khi dùng đồng thời hóa trị liệu kháng lao thích hợp, bệnh giun xoắn với tổn thương thần kinh hay cơ tim.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Cortrium chống chỉ định ở trẻ sinh non do trong thành phần có chứa cồn benzyl. Cồn benzyl đã được báo cáo có liên quan đến hội chứng thở hổn hển gây chết ở trẻ em. Cortrium, còn chống chỉ định trong nhiễm nấm toàn thân và ở các bệnh nhân mẫn cảm với chế phẩm này và các thành phần của nó.

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG VÀ THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

Chú ý đề phòng:

Có chỉ định tăng liều Corticosteroid tác dụng nhanh cho các bệnh nhân đang được điều trị corticosteroid mà chịu một stress bất kỳ vào lúc trước, trong và sau tình trạng stress.

Corticosteroid có thể che giấu một vài triệu chứng nhiễm khuẩn và trong khi sử dụng có thể xuất hiện các nhiễm khuẩn mới. Do có thể làm giảm sức đề kháng và không thể khu trú nhiễm khuẩn khi sử dụng corticosteroid. Các nhiễm khuẩn bất kỳ nguyên nhân gồm nhiễm virus, vi khuẩn, vi nấm, đơn bào, giun sán, ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể có thể kết hợp với việc sử dụng corticosteroid đơn độc hay phối hợp với các tác nhân làm giảm miễn dịch đều ảnh hưởng tới miễn dịch tế bào, miễn dịch dịch thể hoặc chức năng bạch cầu trung tính.

Các nhiễm khuẩn này có thể là nhẹ, có thể nặng và có khi chết người. Với sự tăng liều corticosteroid, độ biến chứng nhiễm trùng tăng theo.

Một nghiên cứu đã thất bại khi muốn chứng minh hiệu quả của Cortrium trong điều trị hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc. Nghiên cứu trên cũng gợi ý rằng sự điều trị trong những tình trạng trên với Cortrium có thể làm tăng nguy cơ tử vong ở vài bệnh nhân (ví dụ: các bệnh nhân tăng creatinin huyết thanh hay những bệnh nhân bị nhiễm trùng thứ phát sau khi dùng Cortrium).

Sử dụng corticosteroid kéo dài có thể gây đục thủy tinh thể dưới bao sau, tăng nhãn áp với tổn thương thần kinh thị và có thể gây nhiễm trùng thứ phát ở nhãn cầu do nấm và virus.

Dùng trong thai kỳ: Vì không thực hiện được các nghiên cứu đầy đủ về sự sinh sản ở người dưới ảnh hưởng của corticosteroid, nên sự sử dụng các thuốc này trong thai kỳ ở các bà mẹ nuôi con bú, các bà mẹ có mang đòi hỏi phải cân nhắc cái lợi của thuốc với nguy cơ có thể xảy ra cho mẹ hoặc thai nhi. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ có dùng corticosteroid trong thai kỳ nên được khám cẩn thận các triệu chứng suy thượng thận.

Liều trung bình và liều cao corticosteroid hay hydrocortison có thể gây tăng huyết áp, ứ muối và nước, tăng bài biết potassium. Các hiệu ứng này ít giống như khi sử dụng các dẫn xuất tổng hợp, ngoại trừ khi được dùng với liều cao. Có thể cần thiết giảm muối và bổ sung potassium. Tất cả các loại corticosteroid đều làm tăng tiết calcium.

Chống chỉ định sử dụng vaccin sống hay vaccin sống giảm độc ở bệnh nhân ức chế miễn dịch bằng corticosteroid. Vaccin chết hay bị bất hoạt có thể sử dụng cho các bệnh nhân này, tuy nhiên, đáp ứng đối với các vaccin có thể bị giảm thiểu, các biện pháp chủng ngừa chỉ định có thể thực hiện được cho bệnh nhân dùng corticosteroid với liều không ức chế miễn dịch.

Đối với lao đang tiến triển, chỉ được sử dụng bột vô trùng Cortrium trong lao phổi cấp hay lan tỏa trong đó corticosteroid được dùng để điều trị phối hợp với các phác đồ kháng lao thích hợp.

Nếu có chỉ định sử dụng corticosteroid ở các bệnh nhân lao tiềm ẩn hay có phản ứng tuberculin, cần khám bệnh thật kỹ bởi vì bệnh lao có thể trở nên bùng phát. Trong suốt đợt điều trị corticosteroid kéo dài, các bệnh nhân này cần phải được hóa trị liệu phòng ngừa.

Vì có ít những trường hợp phản vệ (như co thắt phế quản) đã xảy ra ở bệnh nhân dùng corticosteroid ngoài đường uống, các biện pháp phòng ngừa thích hợp phải được thực hiện trước khi dùng thuốc, đặc biệt khi bệnh nhân có tiền căn dị ứng với bất cứ thuốc nào.

Các báo cáo về loạn nhịp tim và/hoặc trụy tuần hoàn và/hoặc ngưng tim khi truyền nhanh liều cao Cotrium (lớn hơn 0,5 g trong thời gian ít hơn 10 phút). Chậm nhịp tim được báo cáo xảy ra sau hoặc trong khi tiềm truyền với liều cao methylprednisolon sodium succinat, và có thể không liên quan đến tốc độ và thời gian truyền.

Vì thuốc ức chế miễn dịch nên người có dùng thuốc dễ bị nhiễm khuẩn hơn người khỏe mạnh. Thí dụ như, thủy đậu và sởi có thể trở nên nặng hơn hoặc ngay cả tử vong ở trẻ không có miễn dịch hoặc ở người lớn dùng corticosteroid. Cần đặc biệt thận trọng ở những đứa trẻ như thế hay ở người lớn chưa từng mắc bệnh này. Liều lượng, đường sử dụng và thời gian sử dụng corticosteroid ảnh hưởng như thế nào đối với nguy cơ phát triển nhiễm trùng lan tỏa vẫn chưa được biết. Nếu có nguy cơ thủy đậu, có thể chỉ định dự phòng bằng globulin miễn dịch varicella zoster (VZIG). Nếu là sởi thì điều trị dự phòng với immunoglobulin (IG) đa giá tiêm bắp. Nếu thủy đậu phát triển, cần nghĩ đến việc dùng các tác nhân kháng virus.

Thận trọng lúc dùng

Dự phòng tổng quát:

-        Suy vỏ thượng thận thứ phát do thuốc có thể giảm thiểu bằng cách giảm dần liều. Kiểu suy vỏ thượng thận tương đối này có thể tồn tại nhiều tháng sau khi ngưng thuốc; do đó, trong bất kỳ tình trạng stress xảy ra trong thời kỳ này, liệu pháp mineralcorticoid nên được dùng đồng thời.

-        Tác dụng của corticosteroid có tăng cường ở bệnh nhân suy giáp và xơ gan.

-        Nên sử dụng thận trọng các corticoid ở các bệnh nhân bị zona nhãn cầu vì có thể làm thủng giác mạc.

-        Liều thấp nhất của corticoid nên được dùng để kiểm soát tình hình điều trị, và khi có thể giảm liều thì nên giảm dần.

-        Loạn tâm thần có thể xuất hiện khi dùng corticoid, từ sảng khoái, mất ngủ, thay đổi tâm trạng, thay đổi nhân cách và trầm uất nặng cho đến những biểu hiện tâm thần thực sự. Cảm xúc không ổn định hay khuynh hướng tâm thần cũng có thể nặng nề hơn bởi corticoid.

-        Steroid phải được dùng thận trọng trong viêm loét đại tràng không đặc hiệu nếu có dọa thủng, áp-xe hay nhiễm khuẩn sinh mủ khác; viêm túi thừa, có chỗ nối ruột non mới, đang bị hay có tiền sử bị loét dạ dày, suy thận, tăng huyết áp, loãng xương và nhược cơ.

-        Cần phải theo dõi cẩn thận sự tăng trưởng và phát triển của trẻ nhỏ và trẻ lớn điều trị corticoid kéo dài.

-        Sarcoma Kaposi đã được báo cáo có xuất hiện ở bệnh nhân được điều trị corticoid. Ngừng corticoid có thể thuyên giảm lâm sàng.

-        Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng có kiểm tra đã chứng tỏ corticoid có hiệu quả trong giải quyết nhanh tình trạng trầm trọng cấp tính của xơ cứng lan tỏa, chúng không chứng tỏ được corticoid ảnh hưởng đến kết quả chung cục hay bệnh sử tự nhiên của bệnh. Những khảo sát chỉ ra rằng liều corticoid tương đối cao cần thiết để biểu lộ một tác dụng có ý nghĩa (xem liều lượng và cách dùng).

-        Một bệnh cơ cấp tính được nhận thấy với sự sử dụng liều cao corticoid, hầu hết thường xảy ra ở bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền thần kinh cơ (như nhược cơ) hay ở bệnh nhân điều trị đồng thời với thuốc ức chế thần kinh (như pancuronium). Bệnh cơ cấp tính này có tính toàn thân, có thể ảnh hưởng các cơ vận nhãn và cơ hô hấp và đưa đến liệt tứ chi. Tăng creatinin kinase có thể xuất hiện. Sự cải thiện lâm sàng hay phục hồi sau khi ngưng corticoid có thể cần đến hàng tuần hay hàng năm.

-        Vì biến chứng trị liệu corticoid phụ thuộc vào liều và thời gian điều trị, một quyết định nguy cơ/lợi ích phải được thực hiện trên từng trường hợp riêng và thời gian điều trị cũng như hoặc dùng mỗi ngày hoặc dùng cách khoảng.

Thông báo cho bệnh nhân

Những người dùng corticoid liều ức chế miễn dịch phải được thầy thuốc lưu ý tránh nguy cơ nhiễm thủy đậu hay bị sởi. Cần phải khuyên bệnh nhân tìm ngay đến bác sĩ không được chậm trễ nếu họ bị nhiễm bệnh.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Những phản ứng giao thoa dược động học sau đây rất quan trọng về mặt lâm sàng. Khi dùng đồng thời cylosporin với methylprednisolon thì xuất hiện sự ức chế biến dưỡng lẫn nhau; tuy vậy có thể dùng từng loại thuốc thì phản ứng phụ dễ xảy ra hơn. Đã có báo cáo  về hiện tượng co giật xảy ra khi dùng chung methylprednisolon và cyclosporin. Các thuốc khởi động enzym của gan như phenobarbital, phenytoin và rifampin làm tăng thanh thải methylprednisolon, cần tăng liều methylprednisolon để đáp ứng điều trị. Các thuốc troleandomycin và ketoconazol có thể ức chế biến dưỡng của methylprednisolon và như vậy làm giảm độ thanh thải của nó. Do đó, hàm lượng của methylprednisolon có thể làm tăng thanh thải aspirin liều cao dùng lâu ngày. Điều nay đưa đến nồng độ salicylat huyết thanh giảm hoặc làm tăng nguy cơ nhiễm độc salicylat khi ngưng dùng methylprednisolon. Aspirin phải được dùng cẩn thận khi phối hợp với corticoid ở bệnh nhân mắc chứng giảm prothrombin máu. Tác dụng của methylprednisolon trên thuốc chống đông đường uống rất thay đổi. Đã có nhiều báo cáo cho là tác dụng của thuốc chống đông được tăng lên cũng như nhiều báo cáo cho là bị giảm đi khi dùng chung với corticoid. Cho nên, chỉ số đông máu phải được kiểm tra để duy trì tác dụng của thuốc chống đông theo yêu cầu.

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

-        Rối loạn nước và điện giải: Ứ sodium, ứ nước, kiềm biến dưỡng vì giảm kali máu, suy tim sung huyết trên bệnh nhân nhạy cảm, tăng huyết áp.

-        Trên hệ cơ xương: Yếu cơ, bệnh cơ do steroid, mất khối lượng cơ, đau khớp trầm trọng, gãy ép cột sống, hoại tử vô trùng đầu xương đùi, đầu xương cánh tay, gãy bệnh lý các xương dài, loãng xương, đứt gân cơ, đặc biệt là gân Achilles.

-        Trên hệ tiêu hóa: Loét dạ dày có thể thủng và xuất huyết, viêm tụy tạng, bụng căng, viêm loét thực quản, tăng alanin transaminase (ALP, SGPT), aspartat transaminase (AST, SGOT) và phosphatase kiềm. Thường tăng ít, không gây triệu chứng và tự hồi phục khi ngưng thuốc.

-        Trên da: Làm chậm lành vết thương, da mòng mòn, đốm xuất huyết và bầm máu, ban đỏ trên mặt, tăng tiết mồ hôi, phản ứng thử nghiệm trên da bị ức chế.

-        Trên thần kinh: Tăng áp lực nội sọ với phù gai thị (giả u não) thường xảy ra sau khi điều trị, co giật, nhức đầu, chóng mặt.

-        Trên nội tiết: Phát triển tình trạng giống cushing, ức chế tăng trưởng ở trẻ em, chứng không đáp ứng thứ phát do vỏ thượng thận và tuyến yên, đặc biệt trong khi bị stress như chấn thương, phẫu thuật hay bệnh, kinh nguyệt không đều, giảm dung nạp chất đường, biểu hiện tiểu đường tiềm ẩn, tăng nhu cầu insulin hay tác nhân làm giảm đường huyết ở người đái tháo đường.

-        Trên mắt: Đục thủy tinh thể dưới bao sau, tăng áp lực nội nhãn, glaucom, lồi mắt.

-        Trên biến dưỡng: Cân bằng đạm âm tính do sự dị hóa protein.

-        Những phản ứng phụ sau đây liên hệ với sự sử dụng corticoid ngoài đường uống: Tăng hoặc giảm sắc tố, tạo da và mô dưới da, áp-xe vô trùng, phản ứng phản vệ kèm hay không kèm theo trụy tuần hoàn, ngưng tim, co thắt phế quản, nổi mề đay, buồn nôn và ói mửa, loạn nhịp tim, hạ hoặc tăng huyết áp.

Thông báo cho bác sĩ những tác dụng phụ gặp phải khi sử dụng.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

-        Khi cần điều trị với liều cao, tiêm truyền tĩnh mạch bột vô trùng Cortrium 30 mg/kg ít nhất trong 30 phút. Có thể lặp lại liều này mỗi 4-6 giờ trong 48 giờ.

-        Nói chung, chỉ tiếp tục dùng liều cao cho tới khi tình trạng bệnh nhân vừa được ổn định, thường không quá 48-72 giờ.

-        Dù phản ứng phụ do điều trị corticoid liều cao trong thời hạn ngắn không phổ biến, nhưng có thể xảy ra loét dạ dày. Có thể chỉ định phòng ngừa bằng các thuốc antacid.

-        Trong những chỉ định khác, liều thay đổi từ 10 – 40 mg methylprednisolon tùy tình trạng lâm sàng. Có thể cần đến liều cao hơn trong thời gian ngắn để chế ngự tình trạng cấp tính, nặng. Liều điều trị cần phải tiêm tĩnh mạch trong nhiều phút. Những liều tiếp theo có thể cho tiêm tĩnh mạch hay tiêm bắp bằng cách cách khoảng tùy theo sự đáp ứng của bệnh nhân và tình trạng lâm sàng. Corticoid dùng điều trị bổ sung chứ không thay thế cho phương cách thông thường.

-        Liều lượng dùng cho trẻ nhỏ và trẻ lớn có thể giảm nhưng phải được dựa trên mức độ nặng của bệnh chứ không căn cứ trên tuổi và thể trọng. Nên dùng liều ít hơn 0,5 mg cho mỗi kg cân nặng mỗi 24 giờ.

-        Liều dùng phải được giảm dần hoặc dùng gián đoạn dần sau vài ngày sử dụng. Nếu có một thời kỳ thuyên giảm tự phát xuất hiện trong trường hợp mãn tính thì nên ngừng thuốc. Những xét nghiệm thường quy như phân tích nước tiểu, đường huyết 2 giờ sau khi ăn, đo huyết áp và cân nặng và X quang phổi phải làm cách khoảng đều đặn trong suốt đợt điều trị dài ngày. X quang đường tiêu hóa trên được yêu cầu ở những bệnh nhân có tiền căn loét hay rồi loạn tiêu hóa. Cortrium có thể được tiêm mạch hay tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch, phương pháp được ưa chuộng cho cấp cứu ban đầu là tiêm mạch. Đề dùng tiêm mạch (hay tiêm bắp), chuẩn bị dung dịch theo hướng dẫn liều cần thiết có thể tiêm mạch trong thời gian nhiều phút. Nếu cần, có thể pha loãng thuốc bằng nước cất pha tiêm hoặc dung môi thích hợp khác (xem bên dưới).

-        Chuẩn bị dung dịch tiêm: Để chuẩn bị dung dịch truyền tĩnh mạch, pha với 1,2 ml nước pha tiêm, lắc kỹ. Sau đó có thể tiêm vào dung dịch này một lượng cần thiết dextrose 5%, dung dịch nước muối 0,9% hay dextrose 5% trong nước muối đẳng trương.

ĐÓNG GÓI VÀ BẢO QUẢN

Hộp 10 lọ bột đông khô pha tiêm kèm hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt.

Tránh ánh sáng.

Giữ sản phẩm chưa pha ở nhiệt độ phòng kiểm soát được 20 – 25oC,

Bảo quản dung dịch ở nhiệt độ phòng 20 – 25oC. Dùng dung dịch trong vòng 48 giờ sau khi pha. Lắc đều dung dịch pha trước khi tiêm.

Không dùng thuốc quá hạn sử dụng

Để thuốc ngoài tầm tay trẻ em

TIÊU CHUẨN: USP

HẠN DÙNG: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.

Write Your Own Review
You're reviewing:Cortrium
Your Rating
Demo Website. Thông tin thuốc chỉ mang tính chất tham khảo - Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo hướng dẫn của Bác sĩ. Web đang xây dựng. Bán hoặc hợp tác & đầu tư.